
Là một trong những địa phương có quy mô sản xuất nông nghiệp lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang giữ vai trò cực tăng trưởng quan trọng về nông nghiệp, thủy sản của vùng Tây Nam Bộ. Toàn tỉnh hiện có hơn 623.000 ha đất trồng lúa, với sản lượng bình quân khoảng 8,8 triệu tấn mỗi năm, tiếp tục khẳng định vị thế vùng trọng điểm lúa gạo quốc gia.
Cùng với đó, cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả. Diện tích lúa chất lượng cao, lúa phát thải thấp đạt trên 150.000 ha; nhiều vùng nguyên liệu tập trung được hình thành, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển chuỗi giá trị. Toàn tỉnh An Giang hiện có khoảng 69.000 ha rau màu, hơn 46.000 ha cây ăn trái, cùng hàng chục nghìn ha sản xuất theo hình thức liên kết tiêu thụ giữa hợp tác xã và doanh nghiệp.
Ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang cho biết, chuyển đổi số đang được xác định là “chìa khóa” để mở ra nền nông nghiệp giá trị cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ giúp thay đổi căn bản phương thức sản xuất truyền thống, mà còn góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản địa phương.
Theo ông Trần Thanh Hiệp, ngành nông nghiệp An Giang đã và đang triển khai nhiều mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất như hệ thống nhà lưới trồng rau công nghệ cao; thiết bị bay không người lái (drone) trong gieo sạ, phun thuốc bảo vệ thực vật; hệ thống tưới tiết kiệm nước điều khiển bằng điện thoại thông minh; các mô hình Internet vạn vật (IoT) trong sản xuất nấm và chăn nuôi.
Đặc biệt, những mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất đã từng bước làm thay đổi tư duy sản xuất của nông dân An Giang. Từ chỗ nông dân phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm và thâm dụng tài nguyên sang sản xuất dựa trên khoa học công nghệ, dữ liệu và tín hiệu thị trường. Qua đó, góp phần giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả kinh tế và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin đơn lẻ, mà là quá trình chuyển đổi toàn diện từ quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên nền tảng số. Việc số hóa các quy trình như quản lý vùng trồng, vật nuôi; quản lý chuỗi cung ứng; truy xuất nguồn gốc và tham gia thương mại điện tử đã mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp nông sản An Giang tiếp cận tốt hơn với thị trường trong nước và xuất khẩu.
Song hành với chuyển đổi số, ngành nông nghiệp An Giang cũng xác định dữ liệu đang là “nguồn tài nguyên mới” của ngành nông nghiệp trong thời đại số. Dữ liệu nông nghiệp của An Giang bao gồm thông tin về đất đai, khí hậu, thời tiết, giống cây trồng vật nuôi, quy trình canh tác, giá cả thị trường và hành vi tiêu dùng.

Vì vậy, việc xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quy hoạch, định hướng sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường, hạn chế tình trạng đầu tư manh mún, trùng lặp. Không chỉ phục vụ sản xuất, dữ liệu còn là công cụ hữu hiệu trong dự báo thiên tai, sâu bệnh và biến động thị trường, giúp các cơ quan quản lý và người sản xuất chủ động xây dựng phương án ứng phó, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại.
Để phát huy tối đa giá trị của dữ liệu, ngành nông nghiệp An Giang đang tập trung chuẩn hóa, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các cấp; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và quyền khai thác hợp pháp của các chủ thể tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp. Một trong những điểm nhấn quan trọng trong quá trình chuyển đổi số nông nghiệp tại An Giang là tỉnh đã xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp. Đến nay, tỉnh đã đồng bộ hơn 1,7 triệu thửa đất lên cơ sở dữ liệu quốc gia; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp với 9 phân hệ, từng bước khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, rời rạc.
Hiện ngành nông nghiệp An Giang cũng đang đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào sản xuất nông nghiệp. Với khả năng phân tích khối lượng dữ liệu lớn, AI cho phép dự báo chính xác năng suất, thời vụ gieo trồng, nguy cơ sâu bệnh và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Đồng thời, AI còn hỗ trợ tối ưu hóa các khâu sản xuất, từ tưới tiêu, bón phân đến sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo hướng tiết kiệm chi phí, thân thiện với môi trường. Đặc biệt, trong quản lý trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp, AI góp phần tự động hóa quy trình sản xuất, giảm phụ thuộc vào lao động thủ công; đồng thời phân tích xu hướng thị trường, dự báo cung – cầu, hỗ trợ kết nối tiêu thụ và xây dựng thương hiệu nông sản.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chuyển đổi số ngành nông nghiệp còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ; nhu cầu vốn đầu tư cho chuyển đổi số còn lớn; mức độ số hóa giữa các hợp tác xã chưa đồng đều; năng lực tiếp cận và làm chủ công nghệ của một bộ phận người sản xuất còn hạn chế.
Do vậy, thời gian tới, An Giang sẽ tập trung xây dựng hệ thống điều hành nông nghiệp thông minh; đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý; phát triển đội ngũ “nông dân số”, “khuyến nông số” và tăng cường xúc tiến thương mại nông sản trên nền tảng số, hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Bài và ảnh: Thanh Sang (TTXVN)
Nguồn baotintuc.vn




In bài viết